Những điều cần biết về tài sản số, tài sản mã hóa
Luật Công nghiệp công nghệ số 2025 đã lần đầu tiên có định nghĩa về tài sản số, tài sản mã hóa và công nhận đây là một loại tài sản.
Vừa qua, Văn phòng Chủ tịch nước đã công bố Lệnh của Chủ tịch nước công bố các Luật được Quốc hội khóa XV thông qua tại kỳ họp thứ 9, trong đó có Luật Công nghiệp công nghệ số 2025.
Luật Công nghiệp công nghệ số 2025 (có hiệu lực từ 1-1-2026) gồm 6 chương 51 điều, trong đó lần đầu tiên pháp luật có quy định cụ thể về tài sản số.
Tài sản ảo trên môi trường điện tử có thể được dùng để đầu tư
Điều 46 Luật Công nghiệp công nghệ số định nghĩa: Tài sản số là tài sản theo quy định của Bộ luật Dân sự, được thể hiện dưới dạng dữ liệu số, được tạo lập, phát hành, lưu trữ, chuyển giao và xác thực bởi công nghệ số trên môi trường điện tử.
Tài sản số được phân loại theo một hoặc một số tiêu chí là mục đích sử dụng, công nghệ và tiêu chí khác, bao gồm:
Thứ nhất là tài sản ảo trên môi trường điện tử. Đây là một loại tài sản số có thể được dùng cho mục đích trao đổi hoặc đầu tư. Tài sản ảo không bao gồm chứng khoán, các dạng số của tiền pháp định và tài sản tài chính khác theo quy định của pháp luật về dân sự; tài chính.
Thứ hai là tài sản mã hóa. Đây là một loại tài sản số sử dụng công nghệ mã hóa hoặc công nghệ số có chức năng tương tự để xác thực đối với tài sản trong quá trình tạo lập, phát hành, lưu trữ, chuyển giao. Tài sản mã hóa không bao gồm chứng khoán, các dạng số của tiền pháp định và tài sản tài chính khác theo quy định của pháp luật về dân sự; tài chính.
Thứ ba là tài sản số khác.
Có thể thấy, theo quy định của Bộ luật dân sự hiện nay, tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản nên các loại tiền ảo (nổi tiếng nhất là Bitcoin) chưa được xem là tài sản.
Tuy nhiên, từ ngày 1-1-2026, tài sản ảo, tài sản mã hoá và tài sản số khác sẽ được xem là tài sản theo quy định của pháp luật Việt Nam.
Lừa tài sản ảo có phạm tội?
Trao đổi với Pháp Luật TP.HCM, ThS Phan Thị Phương Hiền, Trường Đại học Luật TP.HCM, cho biết để cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo Điều 174 BLHS năm 2015 thì ngoài thoả mãn dấu hiệu hành vi thì cần thoả mãn dấu hiệu đối tượng tác động là tài sản, bởi khi hành vi tác động đến tài sản của người khác thì quyền sở hữu mới có thể bị gây thiệt hại.
Vì hiện nay tiền ảo chưa được xem là một loại tài sản theo pháp luật Việt Nam nên nếu có bị lừa mất tiền ảo thì đối tượng lừa đảo về nguyên tắc không thể bị xử lý về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo BLHS hiện hành.
Tuy nhiên, thực tiễn xét xử ghi nhận tại Bản án số: 841/2023/HS-PT ngày 01-11-2023 của TAND Cấp cao tại TP.HCM về “Tội cướp tài sản” (điểm a khoản 4 Điều 168 BLHS 2015), HĐXX có nhận định các bị cáo đã khống chế nạn nhân, chuyển thành công 168 Bitcoin, rồi quy đổi 86,91 Bitcoin được 18.880.000.000 đồng và đã chiếm đoạt 03 điện thoại di động, 01 camera hành trình trị giá 45.115.000 đồng. Do đó, tòa án cấp sơ thẩm xác định hành vi của các bị cáo phạm tội “Cướp tài sản” theo điểm a khoản 4 Điều 168 BLHS là có căn cứ. Như vậy, bản án ghi nhận việc quy đổi tiền mã hoá Bitcoin ra tiền VNĐ vẫn là căn cứ để xác định là dấu hiệu định khung hình phạt trong Tội cướp tài sản (Điều 168 BLHS).
“Cần lưu ý, hiện nay tiền ảo chưa được công nhận là tài sản nhưng từ ngày 1-1-2026 thì tài sản ảo, tài sản mã hóa sẽ được xem là tài sản theo quy định của Luật Công nghiệp Công nghệ số 2025. Từ đó, việc lừa đảo chiếm đoạt tài sản ảo, tài sản mã hóa sẽ có đầy đủ cơ sở pháp lý để xử lý về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Điều 174 BLHS năm 2015) nếu thoả mãn các dấu hiệu khác của tội phạm này”, ThS Hiền nói.
Nguồn: plo.vn
What's Your Reaction?
Like
0
Dislike
0
Love
0
Funny
0
Angry
0
Sad
0
Wow
0












